Năng suất lao động Việt Nam vẫn thuộc nhóm thấp nhất khu vực

(Dân trí) – Trong khu vực Đông Nam Á, năng suất lao động của Việt Nam chỉ cao hơn Campuchia (gấp 2,4 lần); Myanmar (gấp 1,6 lần) và Lào (gấp 1,2 lần).

Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) vừa công bố báo cáo “Năng suất lao động (NSLĐ) của Việt Nam giai đoạn 2011-2020: Thực trạng và giải pháp”.

Báo cáo phân tích, đánh giá về thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và chuyển dịch năng suất lao động (NSLĐ) của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020, đồng thời đề xuất các giải pháp chủ yếu nâng cao NSLĐ của Việt Nam trong thời gian tới.

Năng suất lao động của Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực 

Theo báo cáo này, trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao NSLĐ, nhờ đó NSLĐ đã có những cải thiện đáng kể cả về giá trị và tốc độ.

Giai đoạn 2011-2015, NSLĐ của Việt Nam luôn có xu hướng tăng. Bình quân mỗi năm, tốc độ tăng NSLĐ toàn nền kinh tế đạt 4,53%.

Tốc độ tăng NSLĐ từ năm 2016 đến năm 2019 đều đạt trên 6%, trong đó năm 2019 đạt tốc độ tăng cao nhất (6,62%). Năm 2020 do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên tốc độ tăng NSLĐ chậm lại nhưng vẫn đạt gần 5%. Bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2016-2020, tốc độ tăng NSLĐ của Việt Nam đạt 6,05%.

Tính cả giai đoạn 2011-2020, tốc độ tăng NSLĐ bình quân mỗi năm của toàn nền kinh tế đạt 5,29%. Năm 2020, NSLĐ của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành ước tính đạt 150,1 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 6.466 USD/lao động), gấp 2,1 lần năm 2011 (70 triệu đồng/lao động).

NSLĐ và tốc độ tăng NSLĐ chung toàn nền kinh tế.

Tính theo sức mua tương đương năm 2017 (PPP 2017), NSLĐ của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 tăng bình quân 5,4%/năm. Mức tăng trưởng này cao hơn nhiều nước trong khu vực như Malaysia (1,3%/năm); Singapore (1,7%/năm); Thái Lan (2,2%/năm)…

Nhờ mức tăng nhanh trên, Việt Nam đã thu hẹp được khoảng cách tương đối với một số nước ASEAN có trình độ phát triển cao hơn. Năm 2011, NSLĐ của Singapore gấp 12,4 lần NSLĐ của Việt Nam, NSLĐ của Malaysia gấp 4,3 lần… Đến năm 2020, khoảng cách này giảm xuống, NSLĐ của Singapore gấp 8,8 lần NSLĐ của Việt Nam, NSLĐ của Malaysia gấp 3 lần…

Tuy nhiên, mức NSLĐ của Việt Nam hiện nay vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực, đáng chú ý là chênh lệch tuyệt đối vẫn tiếp tục gia tăng.

Tính theo PPP 2017, NSLĐ của Việt Nam năm 2020 đạt 18,4 nghìn USD, chỉ bằng 11,3% của Singapore; 33,1% của Malaysia; 59,1% của Thái Lan; 77% của Indonesia; 86,5% của Philippines…

Trong khu vực Đông Nam Á, NSLĐ của Việt Nam chỉ cao hơn Campuchia (gấp 2,4 lần); Myanmar (gấp 1,6 lần) và Lào (gấp 1,2 lần).

Theo báo cáo, điều này cho thấy khoảng cách và thách thức mà nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt để có thể bắt kịp mức NSLĐ của các nước có trình độ phát triển hơn là khá lớn.

Nguồn : https://dantri.com.vn/

NSLĐ của Việt Nam và một số nước châu Á năm 2020.

So với năng suất trên mỗi lao động đang làm việc, NSLĐ tính trên giờ làm việc thể hiện bức tranh rõ ràng hơn về sự thay đổi NSLĐ trong nền kinh tế. Theo báo cáo, số giờ làm việc trung bình mỗi tuần của một lao động đang làm việc ở Việt Nam đã giảm dần từ 45,6 giờ trong năm 2011 xuống 41,9 giờ trong năm 2020.

Theo giá hiện hành, NSLĐ trên mỗi giờ làm việc năm 2011 mới chỉ đạt 29 nghìn đồng/giờ, đến năm 2020 đã đạt 67,6 nghìn đồng/giờ.

Theo giá so sánh, NSLĐ trên mỗi giờ làm việc năm 2020 tăng 75,8% so với năm 2011; bình quân giai đoạn 2011-2020 tăng 5,94%/năm.

Tốc độ tăng NSLĐ trên một giờ làm việc của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2019 cũng cao hơn hầu hết các nước Đông Nam Á.

Năng suất lao động trên mỗi giờ làm việc.

Tuy nhiên, nếu tính NSLĐ trên một giờ làm việc của Việt Nam theo sức mua tương đương (PPP 2017) năm 2019 thì lại rất thấp so với các nước, chỉ bằng 8,99% của Singapore; 23,21% của Malaysia; 40,31% của Thái Lan; 99,51% của Lào…

NSLĐ trên một giờ làm việc của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á chỉ cao hơn Campuchia (gấp 2 lần) và Myanmar (gấp gần 1,6 lần).

Trong 2 năm 2021 và 2022, NSLĐ của toàn nền kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, NSLĐ của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2021 ước tính đạt 171,3 tri